Kỷ nguyên xây "siêu đập thủy điện” của Trung Quốc sắp kết thúc

08/07/2020 07:30

(Doanhnhan.vn) - Các công ty đầu tư xây dựng "siêu đập" của Trung Quốc đang có xu hướng mở rộng phát triển ra nước ngoài khi trong nước đã cạn kiệt không gian.

Theo Bloomberg, kỷ nguyên phát triển "siêu đập thủy điện" tại Trung Quốc đang đi đến hồi kết vì nước này đã cạn kiệt không gian thuận lợi để xây dựng dự án thủy điện khổng lồ. Bên cạnh nguy cơ tàn phá môi trường, ảnh hưởng đến đời sống người dân địa phương, dự án "siêu đập" thường tiêu tốn một khoản tiền rất lớn khiến các công ty đầu tư không còn mấy mặn mà. 

Thời đại xây dựng đập thủy điện của Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950 và đạt đỉnh cao trong 2 thập kỷ qua. Sau khi dự án Bạch Hạc Than hoạt động hết công suất vào cuối năm 2022, Trung Quốc sẽ hoàn thành 5 trong số 10 nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới chỉ trong 10 năm. Nguồn điện năng từ các đập thủy điện nước này trong năm 2017 đã lớn hơn tổng nguồn cung của tất cả các quốc gia khác gộp lại, không bao gồm Mỹ và Ấn Độ. 

Hôm 29/6, China Three Gorges Corp (CTGC) - công ty điều hành đập Tam Hiệp đã vận hành máy phát điện đầu tiên tại nhà máy thủy điện khổng lồ Ô Đông Đức, nằm sâu trong vùng núi của tỉnh Vân Nam với công suất 10,2 GW. Cùng với Bạch Hạc Than, lượng điện sản xuất khi cả hai nhà máy vận hành đầy đủ dự kiến sẽ nhiều hơn tổng công suất các nhà máy thủy điện tại Phillipines cộng lại. Theo Bloomberg, đây có thể là hai đập thủy điện khổng lồ cuối cùng của Trung Quốc.

“Kể từ đầu thế kỷ XXI, quốc gia này đã tăng gấp 4 lần công suất lắp đặt và chiếm hơn một nửa mức tăng trưởng thủy điện toàn cầu”, ông Samuel Law, nhà phân tích của Hiệp hội Thủy điện Quốc tế cho biết.

Kỷ nguyên xây

Các siêu đập thủy điện Trung Quốc được xây dựng ồ ạt trong 2 thập kỷ trở lại đây. (Ảnh: Getty Images)

Từ lâu, việc khai thác các con sông lớn bắt nguồn từ đỉnh núi phía Tây đến các đồng bằng màu mỡ phía Đông là mối quan tâm hàng đầu của giới cầm quyền Trung Quốc. Hơn 4.000 năm trước, Hoàng đế Hạ Vũ của triều đại nhà Hạ đã nổi tiếng với biện pháp sử dụng đê, đập và kênh đào để kiểm soát lũ lụt, vốn là mối đe dọa với nền văn minh cổ đại. 

Sau này, rút kinh nghiệm từ trận lụt thảm khốc vào năm 1931, chính quyền ông Mao Trạch Đông đã nhận định xây dựng đập thủy điện là ưu tiên hàng đầu để kiến thiết đất nước. Tuy nhiên khi ấy kỹ thuật và trình độ xây dựng còn rất hạn chế dẫn đến nhiều thảm họa như vỡ đập Mạn Kiều và Thạch Mạn Than năm 1975 làm chết 240.000 người dân.

Cuối thập niên 1990, Trung Quốc đã chứng kiến cú bứt phá về phát triển kinh tế và sự trỗi dậy của ngành công nghiệp thủy điện. Kỷ nguyên "siêu đập" ở nước này đạt đỉnh cao khi dự án đập Tạm Hiệp chặn dòng sông Dương Tử với công suất 22,5 GW đi vào hoạt động, mặc dù đây cũng là dự án vấp phải nhiều sự phản đối nhất. Công trình bắt đầu khởi công xây dựng vào năm 1994 tại Tam Đẩu Bình, Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc và trở thành đập thủy điện lớn nhất thế giới sau khi máy phát điện cuối cùng đi vào hoạt động năm 2012. 

Ban đầu đập Tam Hiệp được ca ngợi sẽ mang lại nguồn năng lượng sạch, cải thiện giao thông đường thủy và chế ngự dòng sông gây ra nhiều thiên tai. Tuy nhiên mặt trái của dự án là việc đánh đổi cuộc sống của hơn 1 triệu người dân địa phương xung quanh, khiến họ phải di dời đến vùng đất khác khắc nghiệt hơn. Ngoài ra dư luận còn lên án mạnh mẽ việc xóa sổ các di tích, địa điểm văn hóa có giá trị khảo cổ để xây dựng đập.

Kỷ nguyên xây

Nguồn năng lượng từ các nhà máy thủy điện Trung Quốc hơn gấp nhiều lần so với toàn bộ lưới điện của các quốc gia khác. (Ảnh: Bloomberg)

Hiện nay, việc tìm kiếm địa điểm thuận lợi để phát triển "siêu đập thủy điện" ngày càng khó khăn hơn khi Trung Quốc đã khai thác tối đa những khu vực có thể xây dựng các turbin khổng lồ. Điều này buộc ngành công nghiệp thủy điện chuyển hướng sang các dự án nhỏ và thủy điện tích năng. Các công ty đầu tư cũng không còn mặn mà với những "siêu đập" ở vị trí khó khăn trong khi nguồn năng lượng chi phí rẻ hơn như năng lượng mặt trời, nhiệt điện đang có sức cạnh tranh lớn. 

“Phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng nhiệt điện sẽ ít tốn kém hơn. Tại sao phải bơm một khoản tiền khổng lồ để xây dựng đập thủy điện sâu 2.000km ở cao nguyên Tây Tạng. Tương lai của ngành thủy điện Trung Quốc sẽ là các dự án có quy mô ngày càng nhỏ và thủy điện tích năng”, Frank Yu, một nhà phân tích của Wood Mackenzie Ltd khẳng định.

Sau Ô Đông Đức và Bạch Hạc Than, không có con đập nào lớn hơn 10 GW trong kế hoạch xây dựng hoặc đang được triển khai trong giai đoạn này, theo Pavan Vyakaranam, nhà phân tích điện cao cấp tại GlobalData. Tuy nhiên những dự án thủy điện nhỏ vẫn tiếp tục được đầu tư với công suất từ 1 đến 3 GW.

Kể cả dự án "siêu đập" Motuo trên sông Nhã Lỗ Tạng Bố, Tây Tạng được kỳ vọng sẽ trở thành đập thủy điện lớn nhất thế giới vượt qua đập Tam Hiệp với công suất lên tới 38 GW, cũng đang được cân nhắc lại tính khả thi.

Nguyên nhân được cho là Trung Quốc đã cạn kiện không gian cho thủy điện, việc khởi công dự án siêu đập ở Tây Tạng vấp phải rất nhiều khó khăn. Quá trình đưa vật liệu, nhân công đến khu vực hẻo lánh sẽ tạo ra gánh nặng chi phí lớn và việc kết nối đường điện để cung cấp ra thị trường cũng là trở ngại không nhỏ. Đặc biệt dự án này bị dư luận phản đối gay gắt khi phá hủy nguồn nước của các con sông lớn của Ấn Độ bao gồm Brahmaputra, gây ra tác động sâu rộng trong tương lai.

Khi thời đại “siêu đập” trong nước đang thoái trào, các công ty đầu tư xây dựng đập thủy điện của Trung Quốc có xu hướng mở rộng ra nước ngoài. Theo thông tin của Trung tâm chính sách phát triển toàn cầu thuộc Đại học Boston, các ngân hàng lớn của nước này đã tài trợ cho những dự án thủy điện trị giá gần 44 tỷ USD trên toàn cầu trong 2 thập kỷ qua.

“Các công ty thủy điện của nước này đang rót vốn mạnh vào nhiều quốc gia tại khu vực Nam Á, Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh”, nhà phân tích Vyakaranam cho biết.

Theo doanhnhan.vn